Ký ức thời thơ ấu

Posted: April 26, 2011 in Lưu bút

[#1] Ký ức thời thơ ấu của Hoàng:
Ly Son:

tu nho luon luon co khai niem,hoi con nguoi la ai,sao goi la con nguoi,

lon len,luon bi khep nep voi xung quanh,lam khoa hoc la niem dam me

Dat Lat:

len Da Lat la len nui tu luyen,ngo ngang,xa la,nhung ok,co khai niem vi sao ta song va hoc,buzz,bomm,

Sai Gon

xuong  nui,Sai Gon nhung ngay ngo ngac,le the tren chiec xe dap cua dua chau,dai hoc Kinh Te,noi ta mong se lam giau,vi khong thich khoa hoc,buzz,bomm,

Angle

chuoi ngay dep nhat va dau thuong nhat,de lai nhieu “tac pham” nhat,gang dong mau lai phuong tay,buzz,bomm

Sai Gon

ngay thang thang le the,nhung luc nao cung co girl,hhiii,ok,mai viet tiep

(pác Hoàng tự viết vào đây)

*****


[#2] Ký ức thời thơ ấu của Thương:

(pác Thương tự viết vào đây)

*****
[#3] Ký ức thời thơ ấu của Đạt:
Lớp 10, ước mơ làm lãnh đạo quân đội để quét nát nước Mỹ.

Lớp 11, trong giờ học môn Sinh Học, thầy Mẫn đang lép nhép cái mồm giảng bài tía lia, nhưng hồn tôi đang dập dìu theo những con sóng ngoài biển. Gió từ biển thổi vào làm mát dịu tâm hồn và những cánh chim se sẻ chợt bay chợt đậu làm tôi mơ màn và nếu thầy Mẫn không gọi giật ngược lại thì tôi đã… ngủ và mơ rồi hehe.

Lớp 12, chuỗi ngày cày cuốc vì sắp đến kỳ thi mà kiến thức hổng tùm lum, mỗi tối bắt đầu từ 7h đến 3h sáng hôm sau với 3 chồng sách 10-11-12. Học – học nữa – học mãi – học hộc máu luôn.

Quảng Ngãi năm 2000, thi tốt nghiệp tại hội đồng thi Lê Trung Đình, môn tiếng anh nếu không có mỹ nhân “độ” là die rồi, hình như mỹ nhân tên Đông, khá đẹp và cao hơn mình luôn hehe. Thi xong dzọt lẹ chẳng buồn ngái lại thank you 1 cái, nếu là pác Hoàng thì đã khác hehe.

Đà Lạt năm 2000, lên trường Đà Lạt là tinh thần suy sụp và nghĩ rằng quyết định lên núi là sai hoàn toàn.

Việc đầu tiên ở Đà Lạt là, cùng pác Hoàng đi Thung Lũng Tình Yêu; trời mưa lất phất, 1 cao 1 lùn cuốc bộ nhằm hướng Tây-Nam mà tiến… cuối cùng cũng thấy được tấm bảng: “Thung Lũng Rồng Vàng”; 2 tên mừng hớt ha hớt hí chạy vào mua 2 vé mỗi người 5000 vnd. Chắp tay sau đít đi lòng vòng 1 lát thì người quản lý mở điện cho nước trong hồ phun lên cho dzui… 2 tên đi lòng vòng ra phía sau xem hoa Địa Lan,… rất đẹp… đang nói chuyện hí ha hí hửng; nhân viên quản lý thả chó ra sủa inh ỏi; 2 tên bỏ chạy thục mạng như kẻ trộm không bằng. Cũng may chạy dọc theo đồi đó mà chạy lọt vào lãnh địa của Thung Lũng Tình Yêu luôn khà khà; 2 tên tự khen mình hên ghê: vào Thung Lũng Tình Yêu miễn phí. 2 tên đi lòng vòng lên tận đồi Vọng Cảnh: heo hút và tịch lặng thấy ớn lạnh, 2 tên kéo nhau chạy như ma đuổi. DZUI wa’ đi, viết lại mà tự cười 1 mình như thằng điên.

Cuối cùng cũng làm vài pô hình làm kỷ niệm, hình như chụp 6 pô x 4ooo = 24000vnd. bây giờ nhìn lại thấy pác Hoàng và tôi cũng không cao thêm là bao! hehe.

Cũng năm này có xích mích với pác Hoàng, đây là sự cố ngu xuẩn nhất đời tôi.

Năm 2002, Có bạn gái là người Bình Định, tuy xấu về ngoại hình nhưng được cái tính cộc lốc. Dù sao cũng xin cảm ơn và tôi hoài lòng với những gì mình chọn lựa.

Năm 2003, Má mất. Học để làm gì nhỉ? và mình bỏ học 1 thời gian dài mà kể cả anh Hiệp, anh Hòa cũng không biết. Mình sống như vô hồn, sống như đời thực vật. Thêm vào đó cu Bảo cùng phòng cũng chểnh mảng việc học nên rủ nhau đi chơi Game suốt. Đây là quảng thời gian ngu dốt nhất.

Năm 2005, đi triển khai dự án 112 chính phủ theo hợp đồng với công ty MISA. Quảng thời gian này mình học được nhiều điều và nghiệm ra được nhiều thứ. Quảng thời gian này có ảnh hưởng rất nhiều đến công việc sau này.

Năm 2006, xuống núi, mình và bạn gái kéo nhau trên chiếc xe máy 110 phân khối, chạy từ sáng sớm, đến chiều cũng đến được sài gòn (Q.7) người lem nhem bụi và khói xe.

Tháng 9/2006, làm cho công ty GSE.

Tháng 3/2007, đặc phái sang ABV cùng với anh Tiết Đinh Phương, Nguyễn Hiếu Thuần. Cũng trong năm này có sự tranh cãi 1 còn 1 mất với Thuần… cuối cùng Thuần rút lui. Xin lỗi, nhưng vì bạn kết luận dựa trên quan điểm và cộng sự thiếu tính thẳng thắn. Tiếc là không được làm việc cùng với bạn, vì khi cùng với Thuần, President, ông Toda đi ăn tối tại nhà hàng Ngọc Sương trên đường Sương Nguyệt Ánh, mình hy vọng nhiều về tương lai…

Tháng 1, 2008, cưới vợ, sẽ có bài viết riêng cho chủ đề này

# hôm khác rảnh viết tiếp, nhỡ sau này già lú lẩn làm sao

(viết sau khi có free time)

Điện thoại

Posted: April 26, 2011 in Lưu bút

[sơ yếu lý lịch] ông Nội tôi là người Việt làm việc cho Pháp, bà Nội tôi là người Tàu làm việc cho ông Nội tôi.

Ông Ngoại tôi là người Việt làm việc cho Pháp, bà Ngoại tôi là người Việt làm việc cho ông Ngoại tôi.

Ba tôi mang 2 dòng máu Việt-Tàu, Má tôi mang 1 dòng máu Việt.

Tôi là người không thuần Việt và đang làm việc cho người Nhật (cho đến 8h27 AM – GMT + 07,  26/4/2011)

Lý Sơn:

Những năm 1998, quê tôi hiếm lắm mấy có 1 cái điện thoại bàn loại quay số. Anh Hai con Bác 4 tôi có 1 cái như vậy. Tôi đi gánh nước thường nghe điện thoại đổ chuông nhưng cửa nhà đóng. Tôi lóng ngóng đứng ngoài cửa thầm nghĩ “không có ai ở nhà, tắt đi lát trưa gọi lại”.

Sài Gòn:

Những năm 2000, tôi cùng anh con Bác 4 vào sài gòn ôn tập cho kỳ thi tuyển sinh đại học. Khi đó, trong trí óc tôi cái điện thoại di động chưa hình thành. Có lần, tôi đi ngang qua cái bàn máy may được đặt trước cửa phòng của anh Vinh, tôi thấy có cục gì trông ngồ ngộ, cái đít của nó được nối với sợi dây được cắm vào ổ điện. Tôi hỏi anh Hoàng: cái gì vậy? anh Hoàng nói “điện thoại di động”. Vâng, điện thoại di chuyển được khác rất xa với cái điện thoại cố định, kể từ đó tôi có cái cái hình dung mơ hồ ban đầu về điện thoại di động. Nhưng thời đó, di động sáng mang đi làm, chiều về PIN hết nên tắt ngúm, tối cắm điện sạc thâu đêm, và điện thoại di động có dán băng keo nữa vì nắp chụp vị gãy gờ. Cái thời đó di động của anh Vinh để suốt ngày chẳng có ai gọi đến và anh Vinh cũng chẳng dám gọi đi. Cái điện thoại khi đó đơn giản, cũ kỹ, PIN chạy không đủ 8h làm việc dù chẳng nhận cuộc gọi đến và gọi đi mà sao nó hiện đại và vượt qua mọi suy nghĩ của 1 thằng tốt nghiệp THPT nhỉ???

Đà Lạt:

Những năm 2003, anh Kỳ con Bác 4 lên Đà Lạt đi công tác và cũng để đi tham quan vài điểm. Cái di động anh Kỳ mang đi Đà Lạt cũng vậy, tức là nó sạc điện thâu đêm, có dán băng keo và PIN mau hết. Và thời đó, di động của anh Kỳ mang theo để cho có, vì chẳng thấy anh gọi cho ai và cũng chẳng có ai gọi cho anh.

Đà Lạt:

Những năm 2004, anh Hiệp con Cậu 7 mua được con Samsung C100 có màu, nắp gập thời thượng đến nổi con trai cũng thèm. Anh mua về và nâng niu nó hơn vợ mới cưới, dĩ nhiên “tay ngang” như tôi thì chưa được đụng vào, nhỡ làm hư không biết đường sửa. Bộ KIT vinaphone khi đó giá 65.000vnd, được đóng gói và hướng dẫn rất chi tiết và dễ hiểu. Vì thời đó mọi người chưa biết gì mà.

Những năm 2005, anh Hiệp đổi con Nokia 6020 có chụp hình VGA 0.3 “mê”. Dĩ nhiên hàng mới mua về tôi thấy sao mà đẹp dữ vậy trời, sao anh Hiệp giỏi vậy ta, mua được Nokia 6020 nữa chứ. Những lúc anh Hiệp ngủ trưa, tôi nhẹ nhàng “mượn” điện thoại tự chụp cho mình, thấy hình mình cũng đẹp. Nhưng những hình của mình, anh Hiệp sau đó xóa hết, còn hình của mấy girl mà ảnh chụp được thì vẫn còn nguyên si.

Cuối năm 2005, Tôi cũng mua được Nokia 3020, có màu, không có chụp hình. Suốt ngày cầm nó để mở và xem tài liệu hướng dẫn sử dụng như chưa từng được biết đến. Tôi đọc sách hướng dẫn nhiều đến nỗi, bây giờ bất kỳ máy Nokia nào (trừ loại smartphone) tôi chỉ cần nhìn qua là thao tác được kể cả bằng tiếng anh. Kinh thiệt!

Năm 2006, tôi mua con Nokia 6030, có màu, có radio hiện đại kinh khủng, trước kia để nghe radio cần cái máy to đùng kèm theo 4 hoặc 3 viên pin “con ó” to đùng. Cũng năm này, tôi mua cho Bạn gái và em Dũng con Motorola trắng đen, chậm chạp nhưng cực bền.

Năm 2010, Viettel khuyến mãi rầm rầm như giặc ngô sắp đến chân, cái sự kiện ZiK 3G, “mua 1 được 3”, thiết bị tối tân với 3G, màn hình cảm ứng, chụp hình 2 “mê”, xem phim, nghe nhạc thoải mái với iMusic… Tôi bị mê muội với lời quảng cáo đó và như lời của thằng giao hàng thì tôi là 1 trong 2 con “chuột bạch” đầu tiên của thành phố HCM có con ZiK.

Mua về, nhãn ngoài thì là Viettel, bộ sạc là của hãng ZTE-TQ, tháo nắp chụp ra xem,… thôi rồi mọi thứ của ZTE hết, ngoại trừ cái chữ Viettel là tên của Viettel-VN, mà cái tên đó cũng do ZTE in nốt. Nhìn xem tài liệu hướng dẫn sử dụng mà xem, đúng là người tàu giỏi tiếng việt, nên viết câu cú phải cỡ Tàu lai như tôi mới hiểu.

2011: thử lên trang vinaphone.com.vn, mobifone.com.vn, evntelecome.com.vn mà xem, họ đang đầu tư công sức và trí tuệ việt để bán sản phẩm 100% chính hiệu made in Tàu. Từ thời xa xưa, tôi đã dùng Nokia, Motorola… nay dân việt bị những hãng cung cấp di động phủ đầu bằng cách bán sản phẩm Tàu với gói dịch vụ kèm theo. Thôi rồi lũ dân đen, làm sao thoát  khỏi cái vòng lẩn vẩn: ngu-nghèo-hàng Tàu-ngu-nghèo. Ôi, tôi là 1 phần trong số đó. Nay đã ngộ được và viết để mọi người tham khảo, và chỉ có tính chất tham khảo thay vì bài trừ nhé bà con. Việt nam đã gia nhập WTO rồi, cuộc chơi phải sòng phẳng và tuân theo luật của WTO.

Chúc sức khỏe.

Đạt Võ

10/03/2011 · 0 Comments và 3 Reactions – 6,827 views

Buddah hands

Theo các nhà nghiên cứu Phật học, Nam mô A-di-đà Phật nguyên là một câu niệm được phiên âm từ tiếng Phạn (Namo/नमो Amitàbha/अमित Buddha/बुद्ध). “Nam mô” – nguyên âm là Namo là lời tỏ lòng thành kính có ý nghĩa là Quy y. Phật là chỉ Buddha, ta quen đọc gọn là Phật, chỉ đấng hoàn toàn giác ngộ (Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). Ba chữ giữa, A-di-đà là chỉ tên của vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Đại Thừa (một số nhà nghiên cứu nói rằng cách đọc đúng phải là A-mi-đà chứ không phải A-di-đà hay là A-mi-thồ như tăng ni Phật tử Trung Hoa hay đọc).

Câu niệm Nam mô A-di-đà Phật là một trong những câu niệm chủ yếu của phái Tịnh độ tông (hay còn gọi là Liên tông). Đây là một trường phái được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam do cao tăng Huệ Viễn (334-416, Trung Quốc) sáng lập và được cao tăng Pháp Nhiên phát triển tại Nhật. Mục đích của Tịnh độ tông là tu học nhằm được tái sinh tại Tây phương Cực lạc (sa. sukhāvatī) Tịnh độ của Phật A-di-đà. Đặc tính của tông này là lòng tin nhiệt thành nơi Phật A-di-đà và sức mạnh cứu độ của vị Phật này, vị đã thệ nguyện cứu độ mọi chúng sinh quán tưởng đến mình. Vì thế chủ trương tông phái này có khi được gọi là “tín tâm”, thậm chí có người cho là “dễ dãi”, vì chỉ trông cậy nơi một lực từ bên ngoài (tha lực) là Phật A-di-đà. Tuy vậy, Pháp Nhiên quan niệm rằng, đa số con người không thể đi con đường khó, hoàn toàn tin vào tự lực trong thời mạt pháp và cơ hội duy nhất của họ là tin vào sự hỗ trợ của Phật A-di-đà, tin vào tha lực.

Trong dân gian, Tượng A Di Đà thường có những nét đặc trưng: đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, mình mặc áo cà sa, ngồi hoặc đứng trên tòa sen. Phật A-di-đà cũng thường được trình bày với hình tượng mang vương miện kết bằng ngọc quí, có khi dưới dạng của Pháp Tạng tỉ khâu, đầu cạo trọc, một dạng tiền kiếp của phật A Di Đà. Thông thường, A-di-đà được vẽ ngồi trên tòa sen, tay Ngài bắt ấn thiền hay ấn giáo hóa. Cùng được thờ chung với A-di-đà là hai Bồ Tát, đó là Quán Thế Âm (sa.avalokiteśvara), đứng bên trái và Đại Thế Chí (sa. mahāsthāmaprāpta), đứng bên phải. Có khi người ta trình bày Phật A-di-đà đứng chung với Phật Dược Sư (sa. bhaiṣajyaguru-buddha).

Tương truyền rằng một trong số những kiếp luân hồi của A-di-đà từng là một nhà vua. Sau khi phát tâm mộ đạo, vị vua này từ bỏ ngôi báu và trở thành một tỳ kheo với tên là Pháp Tạng (sa. dharmākara). Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và nguyện giúp chúng sinh tái sinh vào cõi Cực lạc của mình và cũng sẽ thành Phật. Phật A-di-đà lập 48 đại nguyện nhằm giúp chúng sinh giải thoát.

Dưới đây là 48 đại nguyện của A-di-đà do Thích Trí Tịnh dịch sang tiếng Việt :

Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sư khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Đại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà còn nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợ tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

(trích nguồn facts.baomoi.com)

Hồi Tết tôi tình cờ đọc được một cuốn sách nhỏ, do mẹ tôi ghi lại từ lời giảng của một ông thầy chùa. Nói nghe có vẻ cổ tích, nhưng mà thiệt là cuốn sách vài chục trang đó thật sự đã thay đổi nhiều thứ trong con người tôi.

Vài tháng nay lúc nào tôi cũng thấy tràn trề sức sống. Cuộc sống hàng ngày cũng nhẹ nhàng dễ chịu, mặc dù bây giờ công việc căng thẳng và nhiều áp lực hơn hồi ở nhà. Giờ mà ai hỏi tôi có bí quyết gì trong cuộc sống hay không, tôi sẽ vui vẻ trả lời là có…

Cuốn sách mở đầu bằng một câu hỏi: người đi chùa lễ Phật thường hay niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, vậy có biết, có hiểu “A Di Đà Phật” là gì không? Tôi sẽ dừng lại một chút để các bạn… Google, nếu không thì có thể đọc bài này cũng được. Tóm gọn lại thì có quan niệm cho rằng A Di Đà Phật là một ông Phật, mà nếu bạn chịu khó kêu tên ông Phật đó ra, thì có thể bạn sẽ được về miền Tây Phương Cực Lạc.

Có lần một người bạn nói với tôi rằng, đạo Phật không phải là một tôn giáo mà là một hệ tư tưởng. Khác với đa số các tôn giáo khác, đạo Phật cho rằng nhân quả là một thuộc tính sẵn có của vũ trụ, và thuộc tính này không bị chi phối bởi bất kỳ “đấng tối cao” nào cả. Giống như ánh sáng thì phải chạy với vận tốc 299792458 m/s, số PI gần đúng là phải là 3.14159265. Nghĩa là mình làm thì mình chịu. Mình làm thì mình hưởng. Không một ai, không một “đấng tối cao” nào có thể thay đổi được gì cả.

Tới đây là có thể thấy sự khác biệt cơ bản và rất lớn giữa đạo Phật với các tôn giáo khác rồi. Vì ở đa số các tôn giáo khác, chỉ cần có niềm tin, rồi cầu nguyện hàng ngày với một “đấng tối cao” là mọi thứ có thể được giải quyết hết . Hành động cầu nguyện, xin tội, rửa tội… hàm ý rằng, “đấng tối cao” có thể tác động đến cuộc sống của mỗi người.

Vậy lúc mà chúng ta niệm Phật, “Nam mô A Di Đà Phật”, tại sao phải kêu tên ông Phật A Di Đà, một khi đã quan niệm rằng, không có ông Phật nào có thể giúp ích được gì?

Cuốn sách đưa ra một câu trả lời sâu sắc.

Bên trong mỗi con người chúng ta đều có một ông Phật. Ông Phật đó có quyền năng vô biên, có thể xoay chuyển trời đất. Ông Phật đó làm chuyện gì cũng được. Ông Phật đó đau khổ cỡ nào nào cũng có thể vượt qua. Nói chung ông Phật đó là độc cô cầu bại, thiên hạ vô địch. Ông Phật cũng từng tuyên bố: thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn! Nghĩa là từ trên trời cao xuống dưới đất thấp, chỉ có duy nhất mình ổng mà thôi, ngự trị bên trong mỗi con người đã, đang và sẽ sống trên hành tinh này.

Ổng là ai mà ghê ghớm đến vậy? Chính là cái tâm, cái suy nghĩ, cái hồn của chúng ta! A Di Đà Phật đúng là tên của một ông Phật, nhưng mà ông Phật đó chẳng phải ai xa lạ, mà chính là ta. Kêu tên ông Phật, nhưng thật ra là kêu gọi cái tâm Phật của chính mình.

Thử nghĩ mà xem. Cả thảy loài người, có gì chung nhất? Mặt mũi chân tay? Chưa chắc. Tim gan phèo phổi? Chưa chắc. Phải chăng là ý thức? Ai cũng có một ý thức, dẫu vô hình nhưng lại ngự trị thường trực trong mỗi con người chúng ta. Dẫu nghèo hàn đói khổ hay là giàu sang tột cùng, thì cái ý thức đó vẫn trung thành, ở mãi cạnh ta, ngày cũng như đêm, không bao giờ rời xa. Cái ý thức đó, cuốn sách cho rằng, chính là tâm Phật.

Thử nghĩ mà xem… Cái tâm Phật đó có trí tuệ vô biên, khiến chúng ta thành kỹ sư, bác sĩ, nhà toán học, phi hành gia… Cái tâm Phật đó cũng khiến chúng ta thành dốt nát, nghiện hút, hiếp dâm, giết người…

Có khó khăn nào mà cái tâm Phật đó chưa trải qua? Có khó khăn nào mà cái tâm Phật đó chưa từng đối mặt và không thể vượt qua? Bệnh tật, đói nghèo, chiến tranh, chết chóc… chẳng có gì mà cái tâm Phật chưa từng trải qua và không thể vượt qua. Thử nghĩ mà xem…

—-

Khi mà chúng ta biết là khổ đau khó khăn nào chúng ta cũng có thể vượt qua, thì tức là chúng ta đã vượt qua hết tất cả khó khăn khổ đau rồi đó. Khi xưa việc gì cũng khổ, cũng khóc, còn bây giờ khi đã có trí tuệ hiểu biết dù trời sập cũng không khóc, nhà tan cửa nát cũng không buồn đau, bởi ta biết đó là lẽ tự nhiên, và ta có khả năng chịu được. Khổ mà ta có khả năng chịu được, thì làm gì còn cái khổ nào nữa đâu?

Huệ Năng từng nói, “Đâu dè tự tánh thường sanh muôn pháp”, nghĩa là cái tâm ta muốn gì được đó, làm gì cũng được, vậy mà từ xưa đến nay, ta cứ mãi đi cầu ông này bà kia, cứ đi quỳ quỳ lạy lạy những bức tượng đất để cầu mong được ai đó ban phước cho. Ta cũng có khả năng làm Bồ Tát, cũng có khả năng làm Phật, vậy mà chúng ta đi cầu Phật, năn nỉ Phật mà không chịu làm Phật, đi cầu Bồ Tát, đi xin Bồ Tát mà không chịu làm Bồ Tát!

Huệ Năng từng nói, “Dè đâu tánh tự nhiên vốn thanh tịnh”. Như vậy ta có sẵn bản tánh tự nhiên rất thanh tịnh mà chẳng bao giờ ta chịu xài, mà xài toàn tham, sân, si, ghen ghét, thù oán, ích kỷ, hẹp hòi, bỏn xẻn… Tại sao ta lại tự làm cho tâm ta bị bôi nhọ, bị vẩn đục?

Phật nói rằng, “Ta thành Phật được thì tất cả chúng sanh đều thành Phật được vì tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, nếu biết trở về tự tánh sáng suốt trí huệ”. Làm thế nào để trở về với cái tâm Phật sáng suốt thông tuệ? Phật nói rằng, “Quay đầu là bờ”.

Chúng ta đi ra từ bờ, rồi cứ đi mãi đi mãi. Trong cái hành trình đó, chúng ta gắn vào cái tâm trong sáng, gắn vào cái tâm trí tuệ biết bao nhiêu là phiền muộn, biết bao nhiêu là gian dối, biết bao nhiêu là u mê, để rồi chúng ta quên mất rằng, nơi chúng ta cần đến, cái mà chúng ta cần phải có, chính là ở nơi mà chúng ta đã bắt đầu, chính là cái mà chúng ta đã có khi mới bắt đầu. Vậy nên, quay lại đơn giản là từ bỏ, là gạt bỏ, là rửa sạch những cái u mê, ngu muội mà chúng ta đã thu nhặt được từ lúc ra đi. Làm sao biết cái gì là u mê, cái gì là ngu muội?

Kinh Kim Cang có câu, “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Nghĩa là đừng dựa vào đâu mà sanh ra tâm, cái tâm của ta vốn đã thiên hạ vô địch rồi, chẳng cần phải dựa vào bất cứ thứ gì nữa! Nói cách khác, cái gì nằm ngoài cái tâm, cả thảy đều làm cho ta thêm u mê, cả thảy đều làm cho ta thêm ngu muội, cả thảy đều làm cho ta thêm buồn phiền đau đớn. Thử nghĩ mà xem.

Những thứ hữu hình như nhà cửa, xe cộ, tiền tài…  đều làm cho ta thêm khổ. Mua thêm cái quần cái áo, thì mỗi lần giặt đồ lại mệt thêm một chút. Lỡ mà mua đồ tốt, lại sợ hư sợ rách, phải hì hục giặt tay. Mua thêm một món đồ điện tử, thì lại tốn thời gian *chơi* với nó cho đáng của. Lỡ mà mua đồ mới, mỗi lần trầy tróc, rơi rớt đổ bể, lại buồn thúi ruột vì tiếc của. Riết rồi không biết ta làm chủ tài sản, hay là tài sản làm chủ ta.

Còn những thứ vô hình thì sao? Có cái gì làm cho ta thêm khổ, thêm ngu muội nữa hay không? Có, nhiều lắm, mà toàn những cái tinh vi thôi.

Có lần anh Ngô Quang Hưng hỏi thế này:

[…]Tại sao bạn lại identify mình với một khái niệm trừu tượng là Việt Nam? Tại sao bạn lại quan tâm khi cái gọi là “Việt Nam” mất đất? Tại sao bạn lại quan tâm về quyền con người, quyền chính trị, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân “Việt Nam” khi 99% số người trong đó bạn không hề quen biết?

[…]Tại sao identify mình với một khái niệm trừu tượng khá áp đặt là “đất nước”? Chỉ một xáo trộn ngẫu nhiên của lịch sử sẽ dẫn đến một “Việt Nam” rất khác với một “Việt Nam” mà ta biết bây giờ. Nó đã có thể là của Tàu. Nó đã có thể không có nửa phía Nam. Khi đó identity của bạn là gì? Bạn có chắc rằng mình không phải là hậu duệ của một chú Tàu xì nào đó không?

Paul Graham cũng có lần viết thế này:

As a rule, any mention of religion on an online forum degenerates into a religious argument. Why? Why does this happen with religion and not with Javascript or baking or other topics people talk about on forums?

What’s different about religion is that people don’t feel they need to have any particular expertise to have opinions about it. All they need is strongly held beliefs, and anyone can have those. No thread about Javascript will grow as fast as one about religion, because people feel they have to be over some threshold of expertise to post comments about that. But on religion everyone’s an expert.

Then it struck me: this is the problem with politics too. Politics, like religion, is a topic where there’s no threshold of expertise for expressing an opinion. All you need is strong convictions.

[…]I think what religion and politics have in common is that they become part of people’s identity, and people can never have a fruitful argument about something that’s part of their identity. By definition they’re partisan.

[…]More generally, you can have a fruitful discussion about a topic only if it doesn’t engage the identities of any of the participants. What makes politics and religion such minefields is that they engage so many people’s identities. But you could in principle have a useful conversation about them with some people. And there are other topics that might seem harmless, like the relative merits of Ford and Chevy pickup trucks, that you couldn’t safely talk about with others.

The most intriguing thing about this theory, if it’s right, is that it explains not merely which kinds of discussions to avoid, but how to have better ideas. If people can’t think clearly about anything that has become part of their identity, then all other things being equal, the best plan is to let as few things into your identity as possible.

Most people reading this will already be fairly tolerant. But there is a step beyond thinking of yourself as x but tolerating y: not even to consider yourself an x. The more labels you have for yourself, the dumber they make you.

Phải chăng danh định, bản ngã, cái tôi và thậm chí là tri thức chính là những thứ vô hình ta tự gắn vào tâm Phật của ta để rồi làm cho tâm Phật vốn có khả năng thiên biến vạn hóa trở nên ngu muội, u mê? Từ ngàn năm trước Phật đã dạy, chớ có dựa vào đâu mà sanh tâm! Thế mà ta nào có nghe.

Tôi định đưa ra nhiều ví dụ rút ra từ bản thân để minh họa cho ý những danh định vô hình đã làm u muội con người ta như thế nào. Rồi tôi lại nghĩ, ai mà tò mò thì tốt nhất là nên làm một thử nghiệm thế này: mỗi ngày thức dậy, tìm một cái x là một phần của con người mình, rồi sống ngày hôm đó mà không nghĩ mình là x nữa.

Chẳng hạn như, sáng ngủ dậy, nghĩ mình là người Việt Nam, rồi sống ngày hôm đó, nghĩ mình không phải là người Việt Nam, xem thử có gì khác hay không. Có thể thay Việt Nam bằng rất rất nhiều thứ khác như giới tính, nghề nghiệp, công ty, trường học, vùng miền, thu nhập, bằng cấp…

Hay như là ngay bây giờ ngồi đây đọc những dòng này và hãy thử quên đi tôn giáo, quên đi đức tin của mình, để rồi xem cái mà bạn thấy và cảm nhận có khác gì so với trước hay không.

Tôi tin là rồi bạn sẽ nhận ra rốt cuộc rồi những cái danh định kia chẳng có ý nghĩa gì cả, và đúng như lời Phật dạy, chúng chỉ làm cho bạn u mê thêm mà thôi. Rời bỏ chúng, gạt chúng sang một bên là cách duy nhất để quay trở về với tâm Phật, quay về với nguồn sức mạnh khổng lồ nhưng cũng vô cùng yên bình thanh thản và bát ái bao la đang ở bên trong con người bạn.

(trích từ blog của Thái)

Thứ ba, 19 Tháng 4 2011 06:47
https://i0.wp.com/vietnam-war.commemoration.gov.au/vietnam-war/images/3207829.jpgTò mò thấy trên mạng có một clip video phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1964, tức cách đây 47 năm.  Người phỏng vấn là một nữ nhà báo Pháp.  Nội dung chung quanh vấn đề chiến tranh.  Thấy trên mạng có người chê tiếng Pháp của cụ Hồ, nên tôi phải hỏi một anh bạn thông thạo tiếng Pháp bên Paris.  Ý kiến của anh có thể tóm lược dưới đây.

Riêng tôi, đây là lần đầu tiên tôi được nhìn và nghe chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo chí.  Nhận xét đầu tiên của tôi là ông cụ có phong độ Tây lắm. Giọng nói rõ ràng.  Ông nhìn thẳng vào phóng viên, ứng khẩu trực tiếp chứ không cần đến hỗ trợ của cái note viết sẵn, và tỏ ra thoải mái (relaxed) hoặc dứt khoát khi cần thiết.  Như câu trả lời cuối là rất dứt khoát: Jamais (never, không bao giờ)!  Điều thú vị là trong khi phỏng vấn ông cũng phì phèo điếu thuốc lá.  Thời đó thì chắc 90% nam giới hút thuốc, nên cũng không ngạc nhiên mấy.

Vì có người chê rằng tiếng Pháp của ông cụ không chuẩn, nên tôi hỏi một anh bạn bên Pháp để nhận xét cho công bằng hơn.  Anh bạn nhận xét như sau:

1.  Cụ Hồ trả lời phóng viên rõ ràng, đâu ra đó.  Phóng viên cũng rất thẳng thắn, có trình độ, không đặt bẫy vặt.

2.  Về phát âm, đối với một người ngoại quốc, phát âm của cụ Hồ như thế là rất tốt.  Sự thật là có người đã ở Paris cả 5 đến chục năm, xong luận án tiến sĩ mà phát âm còn tồi hơn.

3.  Về từ vựng, cụ Hồ sử dụng từ vựng chính trị và ngoại giao rất chính xác. Điều này chứng tỏ cụ Hồ vẫn đọc báo Pháp về những chủ đề lớn.  Trong video ông cụ chỉ quên có một từ “sa lầy” phải hỏi trợ lí bên cạnh. Lúc đầu, có một vài chữ hơi “Anh”, chắc ông quen trả lời phóng viên Anh hơn.

4.  Về văn phạm, là văn nói bình thường giản dị (có lẽ hơi giản dị đối với người Pháp), một đôi chỗ sai về giới từ, giống hay ngôi thứ nhưng những lỗi này người ngoại quốc rất dễ mắc trong đối thoại, người Pháp cũng có thể mắc. Thành thật mà nói tôi có thể viết tiếng Pháp không có lỗi sơ đẳng loại này, nhưng nói thì không thể, vì không sống tiếng Pháp từ nhỏ và không thuộc loại có khiếu ngôn ngữ.

5.  Lúc đầu nhiều lỗi hơn lúc sau, chứng tỏ lúc đầu trí nhớ chưa trở về với “phản ứng ngôn ngữ Pháp”.

Tóm lại từ video này mà suy ra cụ Hồ không thể là tác giả của Le procès de la colonisation française thì theo tôi không có cơ sở, vì những lỗi sơ đẳng dễ gặp trong văn nói và dễ chữa trong văn viết.  Tôi chưa đọc cuốn đó nên cũng không biết văn trong cuốn đó thế nào.

Một anh khác rất thạo tiếng Pháp vì từng viết sách bằng tiếng Pháp nhận xét: “Tuyệt. Một cách nhẹ nhàng và hài hước, rất ngoại giao, để … remettre chacun à sa place, y compris De Gaulle, La France et la journaliste. Thế là người biết làm chủ tư duy chính trị của mình bằng tiếng Pháp.”

Đó là nhận xét của hai anh bạn. Riêng tôi thì hoàn toàn đồng ý với câu cuối.  Chỉ một vài sai sót nhỏ chưa đủ bằng chứng để đi đến một kết luận “đao to búa lớn” về tác gia cuốn sách vừa đề cập.

Tôi cũng nghĩ một người lớn lên ở Việt Nam rất khó có thể phát âm chuẩn mực như người sinh ra và lớn lên ở nước sở tại.  Chẳng nói đâu xa, trường hợp tôi là một ví dụ.  Dù đã ở đây và sử dụng tiếng Anh hàng ngày cả 30 năm qua, nhưng phát âm thì vẫn không cách gì chuẩn mực bằng con tôi.  Rất rất nhiều người là giáo sư, tiến sĩ nhưng thật ra trình độ tiếng Anh chỉ ở mức trung bình mà thôi.  Còn trong chính trị thì các vị tổng thống, bộ trưởng các nước Đông Nam Á cũng nói tiếng Anh mang âm hưởng thổ ngữ (tức là âm hưởng Thái, Phi, Mã, Tàu) chứ không thể nào như người Anh Mĩ được.  Thử nghe anh chàng thủ tướng Thái Lan xem, anh này học ở Anh, nói tiếng Anh rất khá nhưng phát âm thì vẫn còn … ảnh hưởng nước mắm lắm.  Ở miền Nam ngày xưa, ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, v.v. đều nói tiếng Anh khá, nhưng chắc chắn cũng vấp phải vài lỗi lầm tai hại như sự cố “I have nothing to do with them.” Do đó, tôi nghĩ cũng không nên quá khắc khe về kĩ năng ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Chỉ có điều khá rõ là ông cụ Hồ có khả năng ngoại ngữ tốt hơn và phong cách trả lời phóng viên ngoại quốc chuyên nghiệp hơn nhiều bộ trưởng hiện nay.

(trích nguồn nguyenvantuan.net)

Học sinh tiểu học Phần Lan được giáo dục trong môi trường tốt nhất – Ảnh: ejournal.eduproject

TT – Việc học sinh Phần Lan đạt thứ hạng cao trong một cuộc điều tra quốc tế khiến các nhà giáo dục của Mỹ cố tìm lý do đằng sau thành tích tuyệt vời này, theo một bài viết trên Wall Street Journal.

Các học sinh trung học ở Phần Lan mỗi tối mất không tới nửa giờ để làm bài tập về nhà. Ở đất nước này học sinh không bị phân biệt sang hèn, và cũng không có những nghi thức đọc diễn văn từ biệt khi rời trường trung học.

Cũng không có chuông điểm danh và không hề có trường chuyên, lớp chọn. Hầu như chẳng có những kỳ kiểm tra, phụ huynh thì không phải vật vã về trường lớp và trẻ em chỉ đi học khi bước sang 7 tuổi.

Kiến thức là tài nguyên duy nhất

Năng lực học tập khác thường của học sinh Phần Lan trong những năm gần đây đã thu hút các nhà giáo dục từ hơn 65 quốc gia tới thăm Phần Lan chỉ để tìm hiểu những bí mật đằng sau những kỳ tích này, kể cả các quan chức của Bộ Giáo dục Mỹ. Triết lý họ tìm thấy thật đơn giản nhưng không hề dễ thực hiện: đó là giáo viên cần được đào tạo chuẩn mực và học sinh học tập có trách nhiệm.

Khi còn nhỏ, trẻ em hoạt động nhiều nhưng không cần phải có người lớn luôn kè kè ở bên. Và giáo viên soạn ra các bài giảng phù hợp với học sinh ở từng độ tuổi. “Chúng tôi chẳng có dầu mỏ, cũng chẳng có nhiều tài nguyên nào đáng giá cả. Kiến thức là thứ duy nhất mà người Phần Lan có” – bà Hannele Frantsi, một hiệu trưởng, nhấn mạnh đầy vẻ tự hào.

Thế mà về xếp hạng, học sinh trung học Phần Lan luôn đứng đầu thế giới. Học sinh 15 tuổi ở Phần Lan thi chung với 57 quốc gia khác đã giành được điểm số cao nhất. Học sinh của Mỹ xếp ở hạng trung bình của thế giới ngay cả khi các nhà giáo dục Mỹ đã nhồi nhét cho học sinh mình hàng chồng bài tập về nhà, áp đặt hàng lô tiêu chuẩn và luật lệ.

Học sinh Phần Lan, cũng giống các bạn Mỹ, cũng bỏ ra nhiều thời gian để lướt net. Các em cũng nhuộm tóc, cũng sống phóng túng, thích nghe rap và heavy metal. Thế nhưng tới lớp 9, các em đã vượt xa về kiến thức toán, khoa học và đọc hiểu, và về sau, giống như những người dân Phần Lan khác, luôn trở thành những công dân làm việc hiệu quả nhất thế giới.

Tập trung cho học sinh yếu

Giáo dục Phần Lan đã trở thành tâm điểm chú ý của thế giới sau ba lần liên tiếp đứng đầu kỳ điều tra của Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) gồm 30 quốc gia phát triển của thế giới. Kỳ điều tra gần đây nhất, đặt trọng tâm vào khoa học, với kết quả được công bố cuối năm ngoái, học sinh Phần Lan đứng đầu về khoa học và đứng ở tốp đầu về toán và đọc hiểu.

Hãy lấy hình mẫu từ Trường Norssi, ở thành phố Jỹsky miền Trung Phần Lan. Nhận xét đầu tiên là phương pháp giảng dạy thoải mái và hướng tới những kiến thức cơ bản. Cô học sinh lớp 9 Fanny Salo luôn đạt điểm A và vì không có lớp dành riêng cho học sinh xuất sắc, nên thỉnh thoảng bôi nguệch ngoạc lên vở của mình trong khi chờ đợi các bạn làm bài. Cô rất hay giúp đỡ các bạn học kém hơn trong lớp. “Có thời gian xả hơi một chút trong lớp cũng thú vị”, Fanny nói.

Các nhà giáo dục Phần Lan tin rằng thành tích trung bình của họ cao hơn là vì tập trung cho học sinh yếu, chứ không phải là chăm lo cho học sinh giỏi để chúng vượt hẳn lên các bạn khác. Lý tưởng mà họ muốn thực hiện là các học sinh xuất sắc có thể giúp các bạn học trung bình mà không làm tổn hại tới thành tích của chính các em.

Trường Norssi hoạt động giống như một cơ sở thực tập, hằng năm có khoảng 800 sinh viên sư phạm thực tập tại đây. Các sinh viên sư phạm thực tập trực tiếp với trẻ và thầy cô giáo giám sát từ xa. Giáo viên bắt buộc phải có bằng thạc sĩ và nghề giáo thì mang tính cạnh tranh cao: một vị trí giáo viên có thể phải cạnh tranh với khoảng 40 đồng nghiệp. Lương của giáo viên Phần Lan tương tự như giáo viên Mỹ nhưng quyền tự chủ cao hơn nhiều.

Các giáo viên của Phần Lan được tự chọn sách giáo khoa và được chủ động soạn bài giảng miễn là hướng theo chương trình chuẩn quốc gia. “Ở hầu hết các nước, giáo dục giống như là một nhà máy sản xuất xe hơi. Ở Phần Lan, giáo viên giống như những doanh nhân – họ năng động và chủ động hơn nhiều” – ông Schleicher, giám đốc phụ trách PISA của OECD có trụ sở tại Paris từ năm 2000, so sánh.

Một lý giải cho thành công của học sinh Phần Lan là tính ham đọc sách. Cha mẹ mới sinh con sẽ được chính phủ tặng một giỏ sách mới, có cả truyện tranh. Một số thư viện nằm luôn trong trung tâm mua sắm và xe buýt chở sách phục vụ tới tận những vùng sâu vùng xa là một nét rất riêng và độc đáo của Phần Lan.

Học sinh ít bị áp lực

Học sinh Phần Lan hầu như không bị áp lực phải vào được các trường đại học hàng đầu và cũng không phải lo lắng phải trả học phí cao để vào được những trường danh tiếng nhất. Giáo dục là miễn phí. Chỉ có sự cạnh tranh dựa vào chuyên ngành của trường, ví như trường y chẳng hạn.

Chính vì không phải cạnh tranh để vào những trường điểm đã cho phép học sinh Phần Lan được hưởng một tuổi thơ ít bị áp lực hơn. Trong khi đó các phụ huynh ở Mỹ phải vật vã để đưa bằng được con cái vào trường mẫu giáo tốt, còn trẻ em Phần Lan bắt đầu đi học khi lên 7, muộn hơn một năm so với trẻ em ở Mỹ.

Thế nhưng khi bắt đầu đi học, trẻ em Phần Lan tự lập hơn nhiều. Trong khi các bậc cha mẹ ở Mỹ phải lo đưa con cái tới trường và đón về nhà hằng ngày và phải thu xếp công việc để đi cùng chúng trong những ngày nhà trường tổ chức đi chơi, dã ngoại, thì trẻ em Phần Lan thường tự làm những việc này không cần cha mẹ hỗ trợ.

NGUYỄN THÀNH HUY dịch

Một nền giáo dục được cả thế giới học hỏi vì đã tạo ra những thầy cô giáo chuẩn mực và các HS học đầy trách nhiệm mà không hề có chút áp lực nào đè nặng tuổi thơ .

Đó cũng là niềm mơ ước của mỗi phụ huynh và HS Việt Nam chúng ta

Vào những ngày chúng ta đang gấp rút trả lời câu hỏi “Vì sao HS bỏ học?”, bạn đã suy nghĩ điều gì từ câu chuyện về nền giáo dục Phần Lan này? Bạn thực sự  muốn mỗi ngày đi học của bạn, của con em , học trò bạn sẽ ra sao? Ngành giáo dục cần làm gì để thực hiện điều đó?

TTO

(trích tuoitre.vn)